Một số định hướng xây dựng hệ thống chính sách đồng bào cho dân tộc thiểu số góp phần giảm nghèo bền vững 06-06-2014

Một số định hướng xây dựng hệ thống chính sách đồng bào cho dân tộc thiểu số góp phần giảm nghèo bền vững

Có thể nói, vùng dân tộc thiểu số sinh sống thường là vùng đất giàu tài nguyên tự nhiên như khoáng sản, thuận lợi cho việc phát triển của của một số ngành công nghiệp, thủy điện hay là nơi có khí hậu, đất đai phù hợp với nhiều loại cây có giá trị kinh tế cao cũng như chăn nuôi đại gia súc hoặc có tiềm năng về phát triển du lịch.

Sự phát triển của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế là thách thức song cũng là cơ hội cho đồng bào dân tộc thiểu số mở rộng thị trường với những sản phẩm truyền thống nhất là tại khu vực biên giới, cửa khẩu… Để thúc đẩy những thế mạnh này và từng bước thu hẹp khoảng cách giữa đồng bào dân tộc thiểu số và dưới xuôi, góp phần giảm nghèo bền vững thì việc xây dựng hệ thống chính sách cho dân tộc thiểu số trong giai đoạn tới cần phải tính đến những điều kiện đặc thù của vùng và những xu hướng phát triển của cả nước để từ đó có được hệ thống chính sách phù hợp nhất. Mục tiêu chính và quan trọng nhất là cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào bằng cách phát huy tinh thần chủ động và sức mạnh cộng đồng, củng cố khối đoàn kết dân tộc, góp phần ổn định chính trị, an ninh quốc phoàng và bảo vệ môi trường.

 

Quan điểm cơ bản là phát huy nội lực của người dân tộc thiểu số gắn với đặc điểm và điều kiện của các vùng nhằm thay thế dần tính tư duy bị động, trông chờ, ỷ lại trước đây. Tận dụng lợi thế, khai thác tri thức bản địa và thế mạnh của vùng dân tộc thiểu số để phát triển kinh tế đồng thời tăng cường vai trò điều phối của người địa phương, thể chế hóa cơ chế tổ chức và thực hiện nhằm tạo điều kiện cho đồng bào tham gia vào các nhiệm vụ công ích như trồng và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, biên giới và hải đảo. Phát triển kinh tế đi đôi với giữ gìn và pháy huy bản sắc văn hóa, không gian sinh tồn của người dân tộc thiểu số…

 

Để thực hiện được mục tiêu và các quan điểm này, hệ thống chính sách cho đồng bào dân tộc trong thời gian tới cần tập trung theo hướng xác định được các ưu tiên lớn, các lĩnh vực mũi nhọn để tập trung thực hiện, từ đó tạo sự lan tỏa rộng khắp và mạnh mẽ ra những lĩnh vực khác góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững. Cụ thể là tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống ở những nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó ưu tiên phát triển hạ tầng cấp thôn, bản hoặc cụm thôn bản. Phát triển nguồn nhân lực trên tất cả các lĩnh vực của vùng  đồng thời xây dựng hệ thống cán bộ hỗ trợ cộng đồng. Vận động xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng nông thôn mới kết hợp với phát triển và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn tri thức bản địa. Tái tạo môi trường, bảo vệ tài nguyên tự nhiên, khôi phục cảnh quan giữ gìn không  gian phát triển cho người dân tộc thiểu số. Đặc biệt, lồng ghép các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số với quy hoạch chung của cả nước để khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh lâu dài của mỗi vùng dân tộc. Trước mắt, cần phát triển sinh kế, từ đó tạo điều kiện có người lao động có việc làm, tăng thu nhập đồng thời có những chính sách riêng nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội phù hợp với từng nhóm dân tộc sau:

 

Nhóm 1: Tập trung phát triển các vùng trọng điểm sản xuất hàng hóa, xây dựng một số chuỗi ngành hàng chiến lược phục phục vụ xuất khẩu và thị trường trong nước, trọng tâm là sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, kết nối thị trường cho các sản phẩm được đầu tư phát triển, tạo điều kiện tốt nhất để đồng bào được tham gia vào các vùng, chuỗi sản phẩm này.

 

Nhóm 2: Tùy theo đặc điểm của điều kiện tự nhiên và dân tộc của từng vùng, tập trung tạo điều kiện để người dân tham gia cung cấp dịch vụ công ích (trồng rừng, bảo vệ môi trường, quốc phòng), hỗ trợ phát triển sản xuất kết nối với thị trường, ổn định cuộc sống.

 

Nhóm 3: Nâng cao trình độ nhận thức, thể trạng con người, năng lực phát triển sinh kế, từng bước hình thành sản xuất sản phẩm gắn với thị trường.

 

Hiện nay, có hai hệ thống chính sách quốc gia lớn đang được thực thi tại các vùng dân tộc thiểu số là hệ thống chính sách phát triển kinh tế xã hội chung và hệ thống chính sách giảm nghèo. Hệ thống chính sách dân tộc thiểu số là một bộ phận chính sách riêng biệt, chỉ dành cho vùng và người dân tộc thiểu số song vẫn gắn bó hữu cơ với 2 hệ thống chính sách quốc gia. Trên cơ sở mục tiêu, quan điểm, định hướng cũng như thực trạng và bối cảnh phát triển của vùng dân tộc thiểu số, trong thời gian tới cần xây dựng hệ thống chính sách cho dân tộc thiểu số theo 2 hướng chính là:

 

- Các chính sách chung: Hướng vào những nhu cầu mang tính thiết yếu và phổ biến của mọi dân tộc thiểu số. Phạm vi và mức độ thực hiện nhóm chính sách này còn tùy thuộc vào nguồn lực quốc gia cũng như cần lồng ghép hài hòa với các chính sách, chương trình chung của cả nước song bắt buộc  phải tuân thủ một số vấn đề chính như: hỗ trợ vốn, tạo việc làm phi nông nghiệp, kết nối thị trường đầu ra và đầu vào, khắc phục rủi ro, giao đất, giao rừng; Hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu (điện, đường, trường, trạm, chợ, công trình thủy lợi…); Nâng cao trình độ, tay nghề cho người dân tộc thiểu số; Từng bước nâng cao điều kiện sống (nhà ở, điện, nước, môi trường, y tế); Trợ giúp pháp lý; Giữu gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; Định canh định cư…

 

- Các chính sách đặc thù: Hướng vào các đối tượng đặc biệt, có những nhu cầu đặc thù, mang tính cấp thiết, có khả năng đầu tư và mang lại hiệu quả kinh tế cũng như xã hội. Tập trung vào một số lĩnh vực phát triển sản xuất hàng hóa, nâng cao năng lực sản xuất cho từng khu vực cụ thể tạo sinh kế và nguồn thu nhập bền vững; Phát triển dịch vụ công (trồng, bảo vệ rừng, bảo vệ biên giới, hải đảo…); hoàn thiện cơ sở hạ tầng để phát triển sản xuất hàng hóa; Nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề tạo việc làm…

 

Trao đổi về vấn đề này, ông Ngô Trường Thi – Vụ trưởng, Chánh Văn phòng Quốc gia về Giảm nghèo cho biết: “Có một thực tế là xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa trên cả nước sẽ tiếp tục diễn ra, trong khi người dân tộc thiểu số có trình độ chuyên môn thấp, kỹ năng nghề thiếu nếu không được nâng cao trình độ sẽ rất khó khăn khi tham gia. Thêm vào đó, nền kinh tế thị trường sẽ có sự cạnh trang ngày càng gay gắt, trong khi vùng dân tộc thiểu số điều kiện sản xuất khó khăn, quy mô nhỏ, manh mún, chất lượng hàng hóa thấp nên khó có chỗ đứng nếu không được hỗ trợ trong sản xuất và kết nối… Đất nước vẫn đang trong quá trình đổi mới, nên nguồn lực quốc gia còn hạn chế và trên thực tế không chỉ vùng dân tộc thiểu số mà các vùng, các lĩnh vực khác cũng đều có nhu cầu đầu tư để phát triển. Do vậy, điều quan trọng hơn cả là cần xác định được những ưu tiên lớn, những lĩnh vực mũi nhọn có khả năng lan tỏa để có chính sách ưu tiên đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số nhằm thực hiện thành công công cuộc giảm nghèo nhanh và bền vững…”

 

Một số chuyên gia nghiên cứu về giảm nghèo thì cho rằng, để có một hệ thống chính sách hỗ trợ đồng bào thiểu số hiệu quả, cần rà soát và đánh giá tổng thể thực trạng và điều kiện phát triển của các vùng dân tộc thiểu số nói chung cũng như của từng nơi và từng nhóm đồng bào dân tộc nói riêng, nhất là về điều kiện sống, môi trường, phong tục tập quán của một số dân tộc ít người như La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, Lự, Ngái, Chứt, Lô Lô… Từ đó, có những thông tin cơ bản về xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng có phù hợp hoặc có tác động qua lại hay không với những chính sách chung của cả nước nhằm đưa ra những quyết sách riêng phù hợp nhất đối với từng vùng dân tộc thiểu số mà quan trọng hơn cả là chính sách phát triển sản xuất kết nối với thị trường, chính sách giáo dục đào tạo và dạy nghề… Bên cạnh đó, vai của Ủy Ban Dân tộc cần được phát huy hơn nữa cũng như khẳng định đây là cơ quan đầu mối trong việc chỉ đạo, điều hành, theo dõi, đánh giá các chính sách dân tộc thiểu số trên cơ sở phối hợp một cách hữu cơ với các bộ, ngành liên quan dưới sự điều phối thống nhất của Chính phủ.

Nguồn: Nguyễn Hữu