Người nghèo dân tộc thiểu số với việc tiếp cận dịch vụ công 27-06-2014

Người nghèo dân tộc thiểu số với việc tiếp cận dịch vụ công

Tiếp cận dịch vụ công và các điều kiện về cơ sở hạ tầng thiết yếu được xem là một trong những con đường cơ bản để thoát nghèo và ở Việt Nam điều này đang được đẩy mạnh. Thời gian qua, nhiều chương trình, chính sách, cơ sở hạ tầng đã được đầu tư, thực hiện nhằm nâng cao khả năng tiếp cận của người dân đối với dịch vụ công nhất là tại một số khu vực vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, điển hình là Chương trình 30a tại 62 huyện nghèo.

Học vấn được xem là nhân tố quan trọng, quyết định mức sống, việc tham gia thị trường lao động và thu nhập. Tiếp cận dịch vụ giáo dục đóng vai trò quan trọng trong giảm nghèo cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, trình độ và học vấn của người dân cũng không ngừng tăng lên và Việt Nam cũng đã cam kết thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ về phổ cập giáo dục tiểu học và theo điều tra về mức sống hộ gia đình thì tỷ lệ người trên 22 tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông đã tăng từ 18% năm 2004 lên sấp xỉ 30% năm 2012, trong đó nhóm dân tộc thiểu số cũng có mức tăng trưởng đáng kể.

Tuy nhiên, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu vùng xa vẫn còn khoảng cách lớn về trình độ học vấn, chỉ có khoảng 7% tốt nghiệp trung học phổ thông (dưới 1% dân số có trình độ trên trung học phổ thông). Tại những xã đặc biệt khó khăn, có sự chênh lệch đáng kể về trình độ học vấn giữa các nhóm dân tộc thiểu số, chẳng hạn như dân tộc Mường, Tày có học vấn khá cao trong khi nhóm dân tộc H Mông, Bana, Hre có trình độ quá thấp.

Trình độ học vấn  cũng thay đổi theo vùng địa lý, vùng Đồng bằng Bắc bộ là nơi có trình độ cao hơn cả với tỷ lệ 88%, trong khi đó có vùng chỉ dừng lại con số 40% dân số có trình độ học vấn. Đông Bắc và Nam trung bộ là 2 khu vực mà trình độ của người dân xếp vào diện thấp nhất, nhóm người nghèo không có bằng cấp là 58%, không nghèo trên 40%.

Trình độ giáo dục thấp có nghĩa là nguồn nhân lực thấp kém và năng suất lao động thấp. Nhằm đẩy mạnh giáo dục, Chính phủ đã cam kết thực hiện phổ cập cấp tiểu học và nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ tiếp cận giáo dục đã được triển khai. Theo kết quả điều tra năm 2009 thì tỷ lệ nhập học của trẻ em từ 7 – 11 tuổi là 97%. Đây là tỷ lệ rất cao so với các nước đang phát triển, tuy nhiên cũng phải thừa nhận là thành tựu này của Việt Nam chưa rõ nét, nhất là tại vùng sâu vùng xa, các xã đặc biệt khó khăn. Theo đó, tỷ lệ nhập học ở bậc tiểu học tại khu vực này là 80%, trong khi đó ở bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông các con số tương ứng chỉ là 60% và 38%.

Có một thực tế đáng lo ngại nữa là tỷ lệ bỏ học không có lý do ở các xã đặc biệt khó khăn đang có chiều hướng gia tăng và đa số xảy ra tại thời điểm chuyển cấp. Có một số ý kiến cho rằng ngôn ngữ là một trong những rào cản song theo điều tra xã hội cho thấy trở ngại nhất và cũng là khó khăn chính ngăn cản việc tiếp tục theo học của các em là thiếu dụng cụ học tập như sách, vở, bút… Bên cạnh đó, một phần là ở khu vực miền núi khoảng cách từ nhà đến trường khá xa hay quá tuổi đi học hoặc phải làm những công việc cho gia đình… Rõ ràng ở điểm này thì cha, mẹ đóng vai trò quan trọng trong giáo dục trẻ em, nếu phụ huynh có trình độ thấp sẽ không coi trọng việc theo học của con cái.

Với những khó khăn trên, việc đẩy mạnh tỷ lệ nhập học ở các xã đặc biệt khó khăn là một trong những trọng tâm của chương trình giảm nghèo. Bên cạnh đó, cần có những chính sách hỗ trợ kịp thời nhằm nâng cao mức sống cho người dân tộc thiểu số như hỗ trợ 100% học phí cho vùng sâu vùng xa, giảm một phần học phí tại khu vực nông thôn cũng như các chính sách khác để hướng tới mục tiêu đẩy mạnh tiếp cận giáo dục cho mỗi vùng miền cụ thể.

Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể về giảm nghèo nhưng tình trạng đói nghèo vẫn còn phổ biến nhất là đối với nhóm dân tộc thiểu số. Một trong những nguyên nhân là vấn đề về sức khỏe. Trong nhiều nghiên cứu, đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng, người nghèo thường cho rằng ốm đau, bệnh tật là một trong những lý do chính dẫn đến khó khăn về kinh tế. Chi phí thuốc thang là gánh nặng chi tiêu đối với đa số hộ gia đình, có khoảng 10% hộ gia đình dành 16% chi tiêu cho vấn đề này…

Nhằm tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe, giảm gánh nặng chi tiêu về y tế cho người dân, trong thập kỷ vừa qua, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực thực hiện BHYT đặc biệt cho dân tộc thiểu số. Theo điều tra của Ngân hàng thế giớin (WB), tỷ lệ người dân tộc thiểu số có BHYT và thẻ khám chữa bệnh miễn phí tăng từ 8% năm 1998 lên 78% năm 2006 và trên 85% năm 2010 và trong những xã đặc biệt khó khăn con số này đạt trên 95%... Điều đáng ghi nhận là nhóm dân tộc thiểu số có BHYT hay thẻ khám chữa bệnh miễn phí cao hơn rất nhiều so với bình quân chung trên cả nước (54%), điều này thể hiện sự quan tâm, nỗ lực của Nhà nước và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế đang phát huy hiệu quả  đối với hộ nghèo, khó khăn và người dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, có BHYT hay thẻ khám chữa bệnh miễn phí không đồng nghĩa với với việc tiếp cận dịch vụ y tế tốt hơn, bởi cơ sở y tế tại những vùng nghèo thường chỉ được trang bị sơ sài, các trung tâm y tế của các xã đặc biệt khó khăn đều rất nghèo nàn và trang thiết bị phục vụ khám chữa bệnh, có chăng chỉ đảm nhiệm được một số bệnh đơn giản hay tiến hành sơ cứu trước khi chuyển lên bệnh viện tuyến cao hơn… Thực tế cho thấy, mặc dù tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế của người dân tộc thiểu số còn thấp nhưng nó đang có xu hướng tăng dần lên. Theo điều tra, khảo sát có đến trên 53% người dân tộc thiểu số khi bị ốm hoặc bị thương sẽ đến khám chữa bệnh ở trạm y tế xã và 28% tìm đến một cách chữa trị khác. Riêng về khám chữa bệnh nội trú thì người dân tộc thiểu số đang có tỷ lệ tương đương so với mặt bằng chung của cả nước.

Đa phần các xã đặc biệt khó khăn nằm ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, do đó mặc dù đã có rất nhiều nguồn lực đầu tư cho co sở vật chất tại đây song điều kiện hạ tầng cho phát triển kinh tế tại khu vực này vẫn còn nhiều khó khăn. Theo khảo sát, hiện nay có trên 90% xã đặc biệt khó khăn có đường đến trung tâm xã, mặc dù tỷ lệ có đường giao thông cao ngang với mức trung  bình ở khu vực nông thôn, tuy nhiên, khi đến các thôn, bản con số này chỉ dừng ở 68%. Khoảng cách bình quân của những nơi này cách đường ô tô gần nhất là 7,8 km. Tại những nơi có đường thì trung bình thời gian đưa vào sử dụng là 9,9 tháng và trên 50% là đường đất… Điều này cho thấy, chất lượng đường xá còn thấp và khả năng không sử dụng được trong một số thời điểm nhất định khiến những khó khăn về tiếp cận giáo dục, y tế gặp nhiều cản trở…

Bên cạnh đó, cũng có sự chênh lệch đáng kể giữa đồng bào dân tộc thiểu số đối với mặt bằng chung của cả nước về việc tiếp cận nguồn nước sạch, chợ, điện, nhà văn hóa và bưu điện…

Mặc dù Việt Nam đã thực hiện nhiều chương trình, hỗ trợ phát triển cho đồng bào dân tộc thiểu số nhưng khả năng tiếp cận đến dịch vụ công cộng của người dân khu vực này còn nhiều hạn chế. Trình độ học vấn của người lớn và tỷ lệ nhập học ở trẻ em của người dân tộc thiểu số còn thấp so với mặt bằng chung của khu vực nông thôn. Giữa các nhóm dân tộc cũng có sự khác biệt đáng kể, người H Mông, Bana và Hre có tỷ lệ tiếp cận giáo dục, y tế, hạ tầng cơ sở… thấp nhất (28%). Chính vì vậy trong thời gian tới, Nhà nước cũng như các tổ chức chính trị - xã hội và quốc tế cần tiếp tục nghiên cứu để đưa ra những chính sách hỗ trợ giúp đồng bào dân tộc thiểu số có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội công cộng. Tiếp đó, có cơ chế ưu tiên, ưu đãi đối với một số lĩnh vực như vay vốn phát triển kinh tế gia đình, đào tạo nghề, xuất khẩu lao động, tạo việc làm và thu nhập ổn định… hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững./.