Buông giám sát, khó giảm nghèo 17-12-2013

Phân tích thực trạng cũng như thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005- 2012, đại đa số đại biểu Quốc hội cho rằng, sự chồng chéo về chính sách là nguyên nhân chính khiến công cuộc giảm nghèo chưa đạt được hiệu quả như mong đợi. Sự chồng chéo ấy thể hiện rõ nhất ở ba khía cạnh. Thứ nhất là chồng chéo về mặt nội dung. Đơn cử như cùng một chính sách về nhà ở nhưng có nhiều văn bản được ban hành. Thứ hai là chồng chéo về mặt đối tượng. Thứ ba là chồng chéo về thời gian, khi cùng một thời gian có nhiều chính sách triển khai nên phân tán.

 

Tất nhiên, đây không phải nguyên nhân vừa mới phát hiện mà nó đã từng được chỉ ra cách đây nhiều năm. Đặc biệt khi Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2012- 2015 được phê duyệt, các nhà tham vấn chính sách và đại diện các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (NGO) đã thẳng thắn chỉ ra rằng: Việt Nam thừa chính sách giảm nghèo, nhưng lại thiếu hệ thống cơ chế giám sát để giảm nghèo bền vững. Cũng có những chuyên gia nước ngoài chỉ ra rằng: Việt Nam có đủ khả năng để giảm nghèo nhanh, nhưng thật khó để giảm nghèo bền vững nếu không thay đổi phương thức để tiếp cận đúng đối tượng cần hỗ trợ. Vì thế cũng chỉ được chọn một trong hai.

 

Chính sách nhiều, nhưng người thực nghèo vẫn khó khăn khi tiếp cận các quyền lợi mà lẽ ra họ phải có cơ hội được hưởng. Người dân ở không ít các xã nghèo, huyện nghèo phản ánh để con em họ lọt vào diện được vay tiền đi học, họ cũng phải "chạy” cán bộ thôn, xã; để được bình xét hộ nghèo, có cơ hội được tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi phát triển sản xuất họ cũng phải "chạy”…Và nhiều câu hỏi đã được đặt ra, có bao nhiều phần trăm hộ nghèo được thống kê hàng năm là những hộ nghèo thật và giả nghèo? Có bao nhiêu trong số những hộ thoát nghèo hàng năm là giảm nghèo bền vững chứ không phải là những con số bấp bênh giữa ranh giới nghèo và tái nghèo? Hơn thế, ngay cả khi dư luận đã đặt ra vấn đề ai giám sát tiền hỗ trợ giảm nghèo thì câu hỏi này có vẻ bị coi như "xoáy” vào những vấn đề tế nhị- trong khi với các tổ chức phi chính phủ đó phải là vấn đề thực sự minh bạch…

 

Đáng lưu ý là trong khi Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn mới đã đề cập tới tiếp cận nghèo đa chiều- tức là không đơn thuần nghèo về tiền bạc, thì trong vòng hơn 2 năm qua, thực tế triển khai cho thấy ta vẫn dừng lại ở tiếp cận nghèo đơn chiều. Và rõ ràng chúng ta vẫn loay hoay giữa việc nên cho người nghèo cần câu hay là xâu cá…Lý giải cho băn khoăn về việc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều có làm tỷ lệ hộ nghèo hiện nay gia tăng không, ông Đỗ Mạnh Hùng - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội - cho rằng, việc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều hoàn toàn khả thi. Tuy nhiên, theo điều tra sơ bộ, có những vùng nếu áp dụng chuẩn nghèo đa chiều thì tỷ lệ nghèo sẽ tăng lên đáng kể, chứ không dừng lại như hiện nay.

 

Chính vì thế, trong đề xuất mục tiêu và phương hướng thực hiện khi Nghị quyết giảm nghèo giai đoạn mới được ban hành, nhiều đại biểu QH cho rằng phải tiến tới quyết tâm thực hiện giảm nghèo theo địa chỉ tức là theo các nhân tố giảm nghèo. Tới thời điểm này, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2012- 2015 đã đi quá 2/3 chặng đường. Mục tiêu chung được đặt ra là cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo… Và mục tiêu cụ thể là đưa thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước tăng lên 1,6 lần so với cuối năm 2011 (riêng các hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi tăng gấp 2,5 lần); tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm bình quân 2%/năm (riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm) theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2011 - 2015. Trong đó các chỉ tiêu chủ yếu cần đạt được đến năm 2015 là phấn đấu đạt 10% số huyện nghèo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo; 50% số xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo và 30% số xã, thôn bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn theo tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định…

 

Hơn 27 ngàn tỉ đồng đầu tư cho Chương trình là một nguồn lực không hề nhỏ. Nhưng làm thế nào để giải ngân trong 3 năm mà số tiền này tỉ lệ thuận với số hộ thoát nghèo thực sự (chứ không phải những con số báo cáo). Đây là một câu hỏi lớn, thực sự cần có lời giải đáp. Và rõ ràng với những chương trình lớn, mang tầm quốc gia thì không thể không đặt ra vấn đề giám sát tiền hỗ trợ giảm nghèo, việc thực thi chính sách giảm nghèo và giám sát kết quả thu được từ công cuộc giảm nghèo…Nói như các chuyên gia tư vấn, đi từng bước chắc chắn để giảm nghèo bền vững hơn là nôn nóng để giảm nghèo nhanh!