Thực hiện chính sách giảm nghèo đối với di dân tự phát và những vấn đề đặt ra 02-12-2014

Có thể nói, công tác di dân, tái định cư có ảnh hưởng lớn đến đời sống của hàng vạn người dân mà chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao. Lý do của di dân nông thôn vào các đô thị là do mất đất, thiếu vào làm, mong muốn có một cuộc sống tốt hơn ở nơi định đến… có những trường hợp di cư đơn lẻ hoặc cả gia đình. Các đối tượng này thường khó tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, nhà ở, giáo dục, đào tạo nghề do không có hộ khẩu thường trú hoặc chỉ tạm trú có thời hạn trên 6 tháng nhưng chưa được quan tâm đưa vào diện bình xét.

 

Thời gian qua, nhờ các chính sách giải quyết đất sản xuất, nước sinh hoạt, nhà ở và xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu và các chương trình giảm nghèo, số hộ di dân tự do, đặc biệt là khu vực Tây Bắc vào Tây Nguyên đã giảm hẳn so với trước đây, nhưng vẫn còn diễn biến phức tạp và đời sống của họ vẫn còn nhiều khó khăn. Tại tỉnh Đắc Nông hiện có gần 40 dân tộc cùng sinh sống, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 33%. So với những năm trước đây, đời sống vật chất và tinh thần của bà con đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo ở Đắc Nông chưa vững chắc, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là dân mới di cư còn cao, sự chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, các nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa kể cả vùng thành thị. Hay như tại tỉnh Đắc Lắc, mặc dù kết quả giảm nghèo tương đối nhanh, nhưng chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, đặc biệt là năm 2013, kết quả giảm nghèo của 13/15 huyện, thị xã, thành phố không đạt kế hoạch đề ra, trong đó tại một số huyện có đông dân di cư tự do đạt rất thấp như Ea Súp, Buôn Đôn, Krông Năng... Bên cạnh đó, tại một số địa phương kết quả giảm nghèo chưa phản ánh đúng tình hình kinh tế - xã hội, dẫn đến toàn tỉnh chỉ giảm 2,41%tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ hộ cận nghèo tăng 0,84%; chất lượng giảm nghèo chưa bền vững, số hộ nghèo phát sinh và tái nghèo còn cao; hộ nghèo dân tộc thiểu số và dân mới nhập cư còn chiếm trên 61% tổng số hộ nghèo; vẫn còn 5 xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%... Ngay như tại Thành phố Hồ Chí Minh khi thực hiện chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá giai đoạn 3 (2009-2013) mặc dù hộ nghèo ở đây tuy đã vượt chuẩn nghèo của Thành phố (12 triệu đồng/người/năm), nhưng giá trị thực tế thu nhập đã và đang bị giảm sút. Việc tăng dân số cơ học đã làm phát sinh hộ nghèo và cận nghèo, gây khó khăn trong quản lý, hiệu quả công tác đào tạo nghề chưa cao, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo trong dân di cư tự do chưa được đào tạo nghề còn thấp. Đối với khu vực đô thị, một bộ phận người nghèo, người có thu nhập thấp có xu hướng phát sinh nghèo do quá trình đô thị hóa, di cư nông thôn - đô thị, phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức trong cuộc sống, bởi chi phí đắt đỏ cho các dịch vụ y tế, giáo dục, đi lại…

Thực tế trong thời gian qua, công tác quy hoạch, đền bù, tái định cư tại một số dự án kinh tế - xã hội trong một số lĩnh vực thủy điện, khai khoáng, các dự án thu hồi đất và giao đất cho nông, lâm trường... chưa thỏa đáng và phù hợp với phong tục, tập quán, văn hóa của từng dân tộc, chưa gắn nơi ở với địa bàn canh tác dẫn đến người dân khó thích nghi với cuộc sống mới, nguy cơ di cư tự do và tái nghèo cao. Nhằm hạn chế tình trạng di dân tự phát, bố trí lại dân cư theo hướng phát triển bền vững, một số giải pháp đã được đề xuất như: Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là ở vùng kinh tế khó khăn; tăng cường quản lý Nhà nước về dân cư; rà soát cụ thể, phân loại các đối tượng di dân để quy hoạch sắp xếp lại… Trước mắt, cần ưu tiên đầu tư cho những địa bàn khó khăn để đẩy nhanh phát triển kinh tế-xã hội, bố trí các nguồn vốn để thực hiện các dự án đã được Chính phủ phê duyệt nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế cho người dân, nhất là những vùng có tiềm ẩn nguy cơ di dân cư tự do cao.

Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách còn nhiều bất cập, chẳng hạn như hộ dân cư phải có hộ khẩu hoặc cư trú trên 6 tháng mới được đưa vào diện điều tra, rà soát giảm nghèo, trong khi đó hộ di dân từ nông thôn ra thành thị không hẳn là hộ nghèo, chưa có hộ khẩu thường trú nên không được đưa vào diện hỗ trợ. Bên cạnh đó, hiện chưa có hệ thống cơ sở dữ liệu về an sinh xã hội và nghèo đói, vì vậy việc quản lý di cư từ nông thôn ra thành thị chưa làm được. Mặc dù lực lượng này không thuộc đối tượng hộ nghèo nhưng nảy sinh tình trạng thiếu việc làm, hạn chế trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, môi trường nơi cư trú không được đảm bảo, vì theo các quy định hiện hành, họ chưa thuộc đối tượng được thụ hưởng…

Việc quy hoạch các khu tái định cư chưa phù hợp với văn hóa truyền thống và phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số nên người dân thuộc diện tái định cư đến nơi ở mới chưa có điều kiện phát triển sản xuất, không thích nghi với phong thổ, khí hậu, văn hóa truyền thống ở nơi mới. Đó là chưa kể cơ sở hạ tầng phục vụ đời sống như trạm xá, trường học, công trình công cộng còn quá manh mún... Tiếp đó là, một số công trình thuỷ điện ở miền núi thường gặp nhiều khó khăn về đảm bảo đất đai canh tác hoặc có đất nhưng xa nơi cư trú, đất bạc màu không phù hợp với các hình thức sinh kế truyền thống bản địa của các nhóm dân tộc thiểu số phải di dời.

Qua thực tế, vào mùa mưa lũ ngoài yếu tố tự nhiên, việc xả lũ đột ngột của các hồ thủy lợi, thủy điện dẫn đến đến những trận lũ bất thường gây thiệt hại nặng nề cho người dân vùng hạ lưu (mất tài sản, mất nguồn thu nhập). Bên cạnh đó, hệ thống chính sách cho số đối tượng này chưa có sự đồng bộ, thống nhất, mỗi công trình dự án lại có một quy định riêng, mức đền bù khác nhau nên ảnh hưởng đến công tác tổ chức thực hiện tại địa phương…

Để giải quyết tình trạng trên, các cơ quan hữu quan cần tiếp tục bổ sung các quy định pháp lý về điều kiện được cư trú ở thành phố đối với người dân di cư. Các khu công nghiệp, khu chế xuất phải được đầu tư đồng bộ về cơ sở hạ tầng đảm bảo an sinh xã hội và đời sống cho lao động và gia đình của họ. Đặc biệt, cần triển khai nghiên cứu, áp dụng phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều dựa vào thu nhập sang đa chiều dựa trên cơ sở xác định mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từ đó làm cơ sở đề xuất các chính sách trợ giúp về an sinh xã hội đối với người dân di cư ra thành phố. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh đang thí điểm áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều để xác định đối tượng tại 4 quận, huyện trên địa bàn và đang cho những kết quả khả quan.

Quan điểm chỉ đạo của Nhà nước về công tác di dân tái định cư là bảo đảm cho người dân có cuộc sống, nơi ở tốt hơn hoặc ít nhất cũng bằng nơi ở cũ. Tuy nhiên, thực trạng của một số công trình thủy lợi và thủy điện trong thời gian qua đã bộc lộ một số tồn tại, trước tiên là chính sách đền bù, tái định cư mới chỉ dừng ở việc đền bù sử dụng đất và các tài sản bị thiệt hại trực tiếp. Các thiệt hại gián tiếp và vô hình khác về thu nhập, kinh tế như lợi thế từ vị trí kinh doanh, đánh bắt cá, từ sản phẩm rừng… chưa được tính đến. Ngoài ra, chính sách tạo việc làm khó thực hiện vì không có đầu ra, cơ cấu kinh tế chưa được chuyển đổi, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp.

Chia sẻ về vấn đề này, ông Ngô Trường Thi – Vụ trưởng, Chánh Văn phòng Quốc gia về Giảm nghèo (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) cho biết: “Trong thời gian tới, hướng giải quyết của Chính phủ là, phải gấp rút hoàn thiện hệ thống chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật về công tác bồi thường hỗ trợ, di dân, tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế của các địa phương. Nghiên cứu cơ chế quy định việc sử dụng một phần thuế từ các dự án thủy điện để đầu tư, hỗ trợ phát triển sản xuất… cho vùng tái định cư các dự án thủy điện, ưu tiên cho đồng bào tái định cư, thực hiện các dịch vụ môi trường rừng do các nhà máy thủy điện chi trả. Tăng cường sự phối hợp giữa địa phương và chủ đầu tư các công trình thủy điện, thủy lợi trong công tác quy hoạch khu tái định cư, đảm bảo phù hợp với đặc điểm địa phương, phong tục tập quán của cộng đồng dân cư và gắn với quy hoạch sản xuất, đặc biệt là đất, nước phục vụ sản xuất. Tại các địa phương có quỹ đất sản xuất hạn chế, trong quy hoạch cần nghiên cứu các hình thức nuôi trồng, canh tác khác ngoài cây lúa nước để đảm bảo tăng thu nhập cho người dân hạn chế tình trạng tái nghèo, phát sinh nghèo. Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện nhằm giải quyết kịp thời những vướng mắc đồng thời đưa ra những quy chế quản lý sử dụng, bảo dưỡng các công trình hạ tầng giao thông, văn hóa, giáo dục trong khu tái định cư, tránh xuống cấp nhanh dẫn tới không sử dụng được...”./.