Hoạt động khuyến nông góp phần xóa đói, giảm nghèo ở miền núi 17-08-2013

Ngay sau khi thành lập (1993) ngoài triển khai các mô hình trình diễn cây, con giống mới ở miền đồng bằng, công tác khuyến nông đã chú ý xây dựng nhiều mô hình trình diễn ở khu vực trung du miền núi; điển hình như các mô hình: Canh tác trên đất dốc, đất sau nương rẫy; nông - lâm kết hợp lấy ngắn nuôi dài; giống lúa mới và phân viên dúi sâu; trồng ngô lai; khoanh nuôi bảo vệ tái sinh rừng; phủ xanh đất trống đồi núi trọc; chế biến lâm sản ngoài gỗ; các mô hình nuôi lợn nái Móng Cái; nuôi vịt khaki cambell, cải tạo đàn dê, chăn nuôi gà thả vườn; nuôi cá ở hồ, lồng trên sông khu vực miền núi,v.v...

Qua thực tế triển khai một số mô hình khuyến nông và hoạt động tập huấn, chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật ở miền núi, chúng tôi rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm như sau:

Khu vực miền núi Thanh Hóa là địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Tuy cùng cư trú ở địa bàn miền núi, nhưng địa vực cư trú, phong tục, tập quán sản xuất, của mỗi dân tộc có khác nhau. Bởi vậy, muốn triển khai công tác xóa đói, giảm nghèo nói chung và công tác khuyến nông nói riêng ở khu vực miền núi, chúng ta cần am hiểu phong tục tập quán sản xuất của đồng bào. Việc chuyển giao khoa học - kỹ thuật, hỗ trợ giống cây, con phải trên cơ sở tôn trọng và dựa vào nhu cầu, thực tế sản xuất, tùy theo phong tục, tập quán, tâm lý của đồng bào từng dân tộc theo hướng chuyển giao những gì đồng bào cần chứ không phải chuyển giao những gì chúng ta có.

Có thể lấy ví dụ hiệu quả của mô hình canh tác trên đất dốc, đất sau nương rẫy. Cách đây hai mươi năm, miền núi, trung du chủ yếu là đất trống đồi trọc, đặc biệt là đất dốc, đất nghèo kiệt sau thời kỳ nương rẫy. Trung tâm khuyến nông đã tập huấn, triển khai, giúp đồng bào cải tạo, khôi phục và canh tác hiệu quả trên loại đất này bằng chính phương pháp canh tác cổ truyền vốn có của đồng bào: đó là canh tác theo đường đồng mức, tạo các bậc thang bằng bờ đá, các hố “bẫy đất”, các hàng cây cốt khí cải tạo đất, chống xói mòn, để sản xuất nông - lâm kết hợp bền vững. Mô hình này đã được đồng bào các dân tộc miền núi đón nhận, áp dụng góp phần không nhỏ vào bảo vệ tài nguyên đất đai. Sau hai mươi năm, đa số diện tích đất này đã được hồi phục, trở thành diện tích canh tác các loại cây có giá trị kinh tế cao như: cây ăn quả, nhãn, vải, thanh long, mía, sắn... Mô hình dùng phân viên dúi sâu cho lúa do Trung tâm Khuyến nông phối hợp với Dự án CECI triển khai ở huyện Như Thanh, Thường Xuân cũng đã thu được kết quả cao, duy trì và mở rộng diện tích ngay cả khi dự án kết thúc. Thành công này có được bởi phương pháp bón phân này không khó, tiết kiệm được phân bón, tăng năng suất lúa.

Mô hình chăn nuôi lợn nái Móng Cái cho đồng bào miền núi cũng đem lại hiệu quả rõ rệt. Bởi giống lợn này có một số đặc điểm gần giống với giống lợn địa phương của đồng bào như: chịu được kham khổ, tạp ăn (tận dụng được sản phẩm rau cám, ngô sắn sản xuất tại chỗ), sức đề kháng bệnh tật cao, mắn đẻ, thịt ngon phù hợp với điều kiện kinh tế, sản xuất nhỏ cổ truyền của đồng bào. Lợn Móng Cái lại có ưu điểm hơn lợn địa phương như nhanh lớn, có thể nuôi nhốt hoàn toàn hoặc nuôi nửa nhốt, do lợn khá thuần. Vì là mô hình nuôi lợn nái, nên đồng bào có thể tự sản xuất được con giống, không phải đi xa. Ngoài lợn thịt xuất bán hoặc giết mổ vẫn còn nguồn con giống để tiếp tục chăn nuôi. Trong khi đó, một số mô hình chăn nuôi lợn hướng nạc, lợn lai bị thất bại ngay sau khi mô hình, dự án kết thúc do không phù hợp với điều kiện kinh tế và đời sống của đồng bào.

Từ kết quả một số mô hình trên  cho thấy,  mô hình, hoặc chương trình xóa đói, giảm nghèo nào phù hợp với điều kiện sản xuất, canh tác, đời sống sinh hoạt của đồng bào miền núi, chương trình đó sẽ được đồng bào đón nhận, duy trì, phát huy hiệu quả và ngược lại. Chuyện thất bại do không hiểu phong tục, tập quán của đồng bào miền núi không chỉ diễn ra với các chương trình xóa đói, giảm nghèo mà còn với cả các mô hình, dự án di dân, định cư trước đây (do không am hiểu nên các kiến trúc sư đã thiết kế và dự án cho xây dựng các căn nhà không phù hợp với thói quen, tập quán sinh hoạt hàng ngày của đồng bào, địa bàn định cư không thuận lợi với nguồn nước, đất canh tác, nên đồng bào lại quay về nơi ở cũ hoặc di dân đi nơi khác).

Theo chúng tôi, muốn công tác xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững ở địa bàn miền núi có kết quả, cần làm kỹ bước điều tra, khảo sát, tìm hiểu phong tục, tập quán sản xuất và nhu cầu, nguyện vọng của bà con, có sự tham gia góp ý kiến của bà con trước khi triển khai. Vấn đề này không có gì mới, nhưng không phải lúc nào và đối với chương trình nào cũng thực hiện tốt. Đây  là một trong những vấn đề rất cần quan tâm, nhất là trong thực hiện Nghị quyết 09 về giảm nghèo nhanh và bền vững.